Thứ Hai, Tháng Chín 26, 2022
HomeTài chínhXây dựng thẻ tín dụng ảo ngoại tệ từ 0 đến 1

Xây dựng thẻ tín dụng ảo ngoại tệ từ 0 đến 1

Tác giả hiện đang thực hiện dự án thẻ tín dụng ảo ngoại tệ, dự án này sẽ sớm ra mắt trong thời gian tới. Bây giờ hãy dành ra một chút thời gian để tóm tắt ngắn gọn về toàn bộ dự án, hy vọng rằng bài viết này sẽ mang lại cho độc giả có thêm một bước để giao lưu về lĩnh vực này.

Đầu tiên ta phải hiểu thẻ tín dụng ảo là gì? Thẻ tín dụng ảo hay còn gọi là Thẻ tín dụng phi vật lý (Credit Virtual Card) chính là phiên bản online mang đầy đủ khả năng thanh toán như chiếc thẻ cứng thực thụ, tiện dụng vượt trội để bạn mua sắm online vì rút ngắn tối đa quá trình chờ đợi thẻ cứng.

http://image.woshipm.com/wp-files/2021/06/Fnw7VYDDGI794aAkTQYo.jpg

I. Chuẩn bị cho dự án

1. Lựa chọn loại hình thẻ

Trong giai đoạn đầu của dự án, chúng ta cần làm rõ trường hợp sử dụng cuối cùng của thẻ, liệu thẻ được sử dụng cho các thương gia trong một ngành đặc biệt cụ thể hay cần bao phủ càng nhiều thương nhân ở nước ngoài càng tốt, điều này có thể giúp chúng ta cuối cùng có thể quyết định xem có nên chọn thẻ trả trước, thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng. Nói chung, thông thường các thương gia ở nước ngoài có mức độ ủng hộ cao nhất đối với thẻ tín dụng, tiếp theo là thẻ ghi nợ và cuối cùng là thẻ trả trước. Dự án của tác giả là dành cho To B, bao gồm thương mại điện tử xuất khẩu xuyên biên giới và tiêu dùng trực tuyến ở nước  ngoài. Dự án này cần độ bao phủ các thương gia rộng hơn ở nước ngoài và thế là nhóm tôi đã chọn thẻ ghi nợ công ty.

2. Lựa chọn kênh phát hành thẻ

Sau khi xác định trường hợp sử dụng, chúng ta cần chọn tổ chức thẻ để truy cập, nói chung sẽ chọn Visa hoặc Mastercard, các công ty có thực lực mạnh có thể kết nối trực tiếp với Visa và Mastercard để phát hành thẻ, tất nhiên càng có nhiều công ty liên kết với các kênh phát hành thẻ để hoàn thành phát hành thẻ. Tổ chức mà dự án của tác giả kết nối tới là một tổ chức phát hành thẻ phi ngân hàng.

Thẻ tín dụng là gì? Bí quyết dùng thẻ để không dính "bẫy tài chính"

3. Lựa chọn mô hình tài khoản chủ thẻ

Theo hiểu biết của tác giả về kênh phát hành thẻ, kênh phát hành thẻ sẽ cung cấp hai mô hình tài khoản chủ thẻ để doanh nghiệp kết nối lựa chọn, chúng ta tạm gọi nó là “chế độ xác thực” và “chế độ người lười”. Trong cả hai chế độ, các kênh sẽ cung cấp cho chúng ta một tài khoản nguồn vốn (Cash pooling Account). Cơ chế của chế độ xác thực là: khi một giao dịch xảy ra, trước tiên kênh phát hành thẻ sẽ hỏi chúng ta xem chúng ta có muốn tiếp tục giao dịch hay không. Khi phản hồi của chúng ta là tiếp tục hoàn tất giao dịch, kênh phát hành thẻ sẽ trừ số tiền giao dịch tương ứng trong tài khoản quỹ theo thời gian thực; cơ chế của chế độ người lười là kênh phát hành thẻ sẽ ghi lại số dư thẻ của chủ thẻ, giao dịch sẽ trừ số tiền giao dịch tương ứng từ số dư thẻ của chủ thẻ theo thời gian thực. Trước khi giao dịch hoàn tất, chúng ta không biết gì về giao dịch.

Do đó, sự khác biệt giữa hai chế độ là chế độ xác thực yêu cầu chúng ta đơn độc thiết lập và duy trì một bộ hệ thống giao dịch và hệ thống tài khoản ở phía chúng ta để phản hồi kịp thời trạng thái của giao dịch. Chủ thẻ do chính chủ thẻ tự bảo quản. Ở chế độ lười, chúng ta chỉ cần thông qua giao diện khi người dùng nạp tiền vào để chuyển số tiền nạp của người dùng từ tài khoản quỹ vào tài khoản thẻ của chủ thẻ (nạp tiền theo thời gian thực thành công).

Thông thường, mô hình xác thực linh hoạt hơn và có khả năng mở rộng cao hơn. Ví dụ: khi chúng ta muốn thực hiện một chiến dịch Marketing để cấp một số lượng tín dụng nhỏ cho một số chủ thẻ; chế độ lười yêu cầu chúng ta chuyển tất cả tổng số tiền tín dụng làm chi phí Marketing vào tài khoản quỹ, sau đó nạp tiền vào tài khoản cá nhân của người dùng. Áp lực tài chính sẽ lớn hơn nhiều so với chế độ xác thực. Tác giả đã thực hiện hai dự án thẻ ảo, lần lượt kết nối hai kênh phát hành thẻ khác nhau và sử dụng các mô hình tài khoản chủ thẻ khác nhau. Việc lựa chọn mô hình tài khoản nào là tùy thuộc vào nắm bắt tổng thể của chúng ta về việc phát triển dự án dựa trên yêu cầu kinh doanh của công ty. Tác giả sử dụng chế độ người lười cho dự án này.

II. Xây dựng dự án

Các bước chuẩn bị sơ bộ cho dự án đã được xác định, và chúng ta chuẩn bị bước vào giai đoạn thi công thực tế. Phương án xây dựng giai đoạn đầu của tác giả là thực hiện lần lượt các chức năng sau:

1. Tra xem chi tiết thẻ

Bao gồm số dư thẻ, số thẻ hoàn chỉnh, CVV, thời hạn hiệu lực, chi tiết giao dịch. Những thứ này chúng ta có thể trực tiếp từ các giao diện của kênh phát hành thẻ lấy là được. Tất nhiên, do hầu hết các kênh phát hành thẻ đều là các công ty ở nước ngoài nên thời gian phản hồi yêu cầu của giao diện có thể tương đối lâu, để giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể đưa ra một số chiến lược lưu vào bộ nhớ đệm, ví dụ như dự án của tác giả có cơ chế cập nhật bộ nhớ đệm cache chủ động và thụ động. Khi tài khoản cá nhân của người dùng được nạp lại, chúng ta sẽ nhận được một webhook phản hồi, thế nên chúng ta có thể sử dụng điều này làm trình kích hoạt để cập nhật bộ nhớ cache (cập nhật thụ động) và sau đó chúng ta có thể cập nhật bộ nhớ cache cố định vài phút một lần (cập nhật chủ động) để cải thiện trải nghiệm người dùng.

2. Nạp vào thẻ

Dự án của tác giả là dự án thẻ ngoại tệ nên việc nạp tiền cũng phải nạp tiền bằng tài sản ngoại tệ. Do có dính líu đến một vài vấn đề khác, giải pháp ban đầu để nạp tiền là chuyển tài sản ngoại tệ của người dùng sang tài khoản công ty mẹ ở nước ngoài của tác giả, sau đó chuyển khoản theo cách thủ công vào tài khoản Cash Pooling và cuối cùng là gọi đến giao diện kênh phát hành thẻ để nạp tiền vào tài khoản thẻ của người dùng. Chương trình nạp tiền này tốn kém và nhiều quy trình thủ công nên lúc đó tôi muốn tìm một phương án nạp tiền hợp lý hơn trước khi lên mạng.

3. Chuyển số dư trong thẻ

Điều mà tôi không dự liệu đến chính là ngay sau khi nói chuyện với kênh phát hành thẻ trong quá trình phát triển một phần chức năng này, đột nhiên được thông báo rằng không ủng hộ việc chuyển số dư thẻ (trước đây lúc thảo luận mô hình nghiệp vụ cũng không nhắc tới ý kiến này o(╥﹏╥)o). Thế là bộ phận chức năng này có thể gác lại.

4. Đăng ký thẻ tín dụng ảo

Ở phần này dựa vào những tài liệu mà bên kênh phát hành thẻ cần, sau đó kết hợp với quy trình xin cấp thẻ thiết kế ý tưởng nghiệp vụ của bản thân là được rồi.

Thẻ tín dụng (credit) là gì? | DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG 247

5. Tối ưu hóa phương án nạp tiền

Khi thực hiện chức năng đăng ký thẻ, tác giả có phương án nạp thẻ hợp lý hơn rồi. Kết nối một khoản sản phẩm thu khoản (thu tiền), sau đó số tiền nhận được có thể thông qua giao diện gửi chuyển khoản đến giao dịch tài khoản Cash Pooling. Sự kết hợp của sản phẩm thu khoản và giao diện để bắt đầu chức năng chuyển nhượng đã làm giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả thao tác vốn. Sản phẩm thu tiền của tác giả không cần khởi tạo yêu cầu thu tiền, mà phải trực tiếp xuất trình tài khoản thu tiền cho người dùng, đồng thời cung cấp một mã kỹ thuật số duy nhất cho mỗi người dùng đầu To B để tạo điều kiện cho chúng ta phân biệt nguồn vốn.

Trên cơ sở này, chúng ta đưa ra khái niệm về tài khoản ví của người dùng. Sự khác biệt với tài khoản thẻ nêu trên, số dư tài khoản người dùng đến từ toàn bộ số tiền chuyển đến tài khoản nhận, người dùng cần một lần nữa chọn một số tiền cụ thể từ tài khoản ví của người dùng để nạp vào tài khoản thẻ của người dùng. Dòng tiền thực của tài khoản thẻ nạp của người dùng là trước tiên chúng ta chuyển số tiền mà người dùng muốn nạp từ tài khoản nhận sang tài khoản Cash Pooling Accounting, và lần chuyển khoản này là chuyển khoản SWIFT nên thời gian sẽ tương đối dài, để cải thiện trải nghiệm người dùng, chúng ta trước hết sẽ gửi một phần tiền chuẩn bị trong tài khoản Cash Pooling, lần nạp tiền của người dùng sẽ được ứng trước và sau đó số dư của tài khoản nhận sẽ được chuyển vào tài khoản Cash Pooling. Chiến lược chuyển từ tài khoản thu tiền sang tài khoản Cash Pooling do tác giả thực hiện là hình thức sự kết hợp giữa tần suất cố định và phân nhóm, tức là kiểm tra xem số tiền được chuyển ra có đạt đến một ngưỡng nhất định với tần suất cố định hàng ngày hay không. Khi đạt đến ngưỡng, nó sẽ được tự động bắt đầu vào tài khoản Cash Pooling và sẽ không có hoạt động nào được thực hiện nếu quá không vượt quá ngưỡng.

6. Tài khoản ví tiền

Bởi vì đã thu hút khái niệm tài khoản ví tiền, thế nên cũng cung cấp cho khách hàng các chức năng như số dư ví và yêu cầu chi tiết giao dịch của ví tiền. Những thông tin này được duy trì riêng biệt ở bên đầu phía chúng tôi, vì vậy sẽ không có vấn đề giao diện phản hồi chậm.

7. Đối chiếu xác minh

Ở đây chủ yếu chủ yếu dính dáng đến hai bộ phận, một là đối chiếu tài khoản Cash Pooling, hai là đối chiếu giao dịch của chủ thẻ.

Do chúng ta sẽ thực hiện chuyển từ tài khoản nhận sang tài khoản Cash Pooling nên chúng ta cần có cơ chế đối chiếu sự thay đổi số dư của tài khoản Cash Pooling với kênh phát hành thẻ hàng ngày. Tác giả hiện không cố ý đối chiếu số dư của tài khoản Cash Pooling tại thời điểm giao dịch bị cắt hàng ngày và giao dịch nhập số lượng lớn. Thay vào đó, chỉ đơn giản cần đưa giao dịch chuyển tiền của tài khoản nhận vào thư viện giao dịch để được khớp và thay đổi trạng thái của giao dịch sau khi khớp với giao dịch chuyển vào của tài khoản Cash Pooling.

Về việc đối chiếu giao dịch của các chủ thẻ, do tác giả sử dụng mô hình người lười cho dự án này nên cơ chế đối chiếu giao dịch tạm thời vẫn chưa được áp dụng. Nhưng nếu truy cập vào chế độ xác thực thì việc đối chiếu giao dịch vẫn là điều không thể thiếu.

III. Phần sau của dự án

Tại thời điểm này, giai đoạn đầu tiên của công việc xây dựng thẻ tín dụng ảo gần như đã hoàn tất. Các dự án tiếp theo tác giả sẽ tiếp tục thực hiện các chức năng sau để phục vụ khách hàng tốt hơn:

1. Tối ưu hóa tài khoản nhận tiền

Tài khoản nhận được đề cập ở trên chỉ được sử dụng để nạp tiền cho người dùng. Việc tối ưu hóa tài khoản nhận sẽ cung cấp cho mỗi khách hàng bên To B một tài khoản nhận nội địa độc lập ở nước ngoài để nhận các nền tảng thương mại điện tử (chẳng hạn như cửa hàng Amazon) và các kênh mua lại (PayPal) tài khoản nhận. Sau khi tài khoản nhận nhận được thanh toán từ nền tảng thương mại điện tử hoặc kênh mua lại, số tiền tương ứng sẽ được thêm vào tài khoản ví của người dùng.

2. Trao đổi

Cung cấp chức năng trao đổi tài sản tài khoản ví của người dùng.

3. Chuyển từ tài khoản ví tiền

Như đã đề cập trước đó, không thể chuyển số dư tài khoản thẻ ra ngoài. Chúng ta hy vọng sẽ tận dụng chức năng của tài khoản ví tiền để chuyển tài sản, nhằm tránh trường hợp người dùng chỉ có thể nạp tiền vào tài khoản thẻ sau khi nhận được thanh toán từ nền tảng thương mại điện tử hoặc kênh thu đơn.

Bosskol News
Bosskol News
Biên dịch - sáng tạo nội dung của Bosskol.com
RELATED ARTICLES
Để lại một bình luận
- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments