Thứ Sáu, Tháng Mười Hai 2, 2022
HomeTài chínhNhững khái niệm cơ bản mà một giám đốc sản phẩm tài...

Những khái niệm cơ bản mà một giám đốc sản phẩm tài chính cần hiểu (4)

Trong công việc hàng ngày, các giám đốc sản phẩm sẽ luôn được tiếp xúc với các kiến ​​thức kinh tế hoặc tài chính liên quan đến nghiệp vụ. Vì vậy, việc tìm hiểu một số kiến ​​thức kinh tế tài chính là rất hữu ích cho các giám đốc sản phẩm. Trong bài viết này, tác giả tiếp tục sắp xếp các khái niệm liên quan mà giám đốc sản phẩm có thể tiếp xúc, chúng ta hãy cùng nhau xem xét qua nhé.

Tranh thủ cuối tuần, bạn học Kính (tác giả) làm hai việc: sửa điều hòa và đọc cuốn sách là “Tìm hiểu về tài chính chuỗi cung ứng” (Tên tiếng Trung: 读懂供应链金融).

Tuy nhiên, tôi chưa đọc xong cuốn sách, mới đọc được một nửa, trong vấn đề này, không còn nghi ngờ gì nữa, “cái nồi chính là của bạn học điều hòa giám đốc sản phẩm”.

À, nhân tiện, cuối tuần một người bạn cùng lớp Kính đến nhà uống rượu. Anh ấy là giám đốc dự án. Điều khiến tôi không thể chịu đựng được không phải là tài nịnh hót của anh ấy mà là việc anh ấy đến với tay trắng, quá không tôn trọng cảm nhận của người dùng.

Vì điều này, bạn học Kính cũng đã viết một bài báo về tư duy của giám đốc sản phẩm và giám đốc dự án. Các bạn có hứng thú, quan tâm có thể xem qua và đề xuất các sản phẩm mới có thể xem xét (“Giám đốc sản phẩm và giám đốc dự án rốt cuộc nên kết đôi như thế nào?”). Trong vài phút nữa, bạn không thể mua nó được thì bạn chịu thiệt, mua được thì bạn bị lừa.

Được rồi, mượn những ghi chép trong lúc đọc sách và một vài suy nghĩ, tôi đã sắp xếp các kiến thức liên quan về các sản phẩm tài chính và tóm tắt nó như sau.

I. Mô hình tài chính chuỗi cung ứng

Nói chung, hiện tại có 3 mô hình tài chính chuỗi cung ứng tiêu biểu nhất: tài trợ cho các khoản phải thu (Account Receivable Financing), tài trợ thanh toán trước (Pre-Delivery Payments Finance) và tài trợ hàng tồn kho (Inventory Financing).

II. Lý thuyết 7R Logistics

Nếu chúng ta mượn dùng lý thuyết 7R của Logistics, quản lý chuỗi cung ứng có thể được coi là sản phẩm thỏa đáng (Right product) với số lượng thỏa đáng (Right quantity) trong một khoản thời gian thỏa đáng (Right time) ở một địa điểm thỏa đáng (Right place) và điều kiện thỏa đáng (Right condition) với một chi phí thỏa đáng (Right cost) giao đến cho người dùng thỏa đáng (Right customer).

III. Mua bán ngoại tệ chênh lệch giá

Chênh lệch giá, vốn dĩ là để chỉ hành vi mà nhà giao dịch trao đổi một loại tiền tệ có lãi suất tương đối thấp ở trong tay mình lấy một loại tiền tệ có lãi suất cao hơn, tận dụng sự chênh lệch lãi suất giữa các loại tiền tệ khác nhau để có được thu nhập từ nó.

Mua bán ngoại tệ, vốn dĩ là hành vi lợi dụng chênh lệch tỷ giá hối đoái hoặc sự thay đổi tỷ giá hối đoái trên các thị trường ngoại hối khác nhau để mua và bán ngoại tệ nhằm thu về lợi ích cho mình thông qua việc chênh lệch tỷ giá hối đoái.

IV. Tài trợ kho công cụ chuyển nhượng (Bill Pool Financing)

Tài trợ kho công cụ chuyển nhượng (Negotiable instrument) là một loạt các dịch vụ giải quyết và cấp vốn được cung cấp bởi các tổ chức tài chính, bao gồm quản lý hóa đơn, thu thập và cấp tín dụng. Các tổ chức tài chính ở đây thường đề cập đến các ngân hàng.

Mô hình kinh doanh quản lý một số lượng lớn hóa đơn trong một gói được gọi là kho công cụ chuyển nhượng (Bill Pool) là vì Pool có đầu vào và đầu ra, và nước trong Pool cũng có thể được được thay mới theo chu kỳ.

Kho công cụ chuyển nhượng cũng giống như vậy. Một số lượng lớn các hóa đơn có số tiền khác nhau và kỳ hạn khác nhau. Do đó, tổng số lượng của số lượng lớn hóa đơn này thường sẽ thay đổi. Một số hối phiếu được chuyển thành tiền mặt khi đáo hạn và tổng số tiền của nhóm hóa đơn sẽ ít hơn; Khi một hối phiếu mới được đưa vào, tổng số tiền trong kho công cụ chuyển nhượng lại tăng lên.

Hối phiếu cũng là một loại tài khoản phải thu, kho công cụ chuyển nhượng về cơ bản đặt nhiều khoản phải thu lại với nhau như một khoản cầm cố. Sự khác biệt lớn nhất giữa nó và kho hồ sơ bao thanh toán là giấy cầm cố không phải là cùng một loại hóa đơn.

Bên trong kho công cụ chuyển nhượng là hối phiếu, có thể được quy ra tiền mặt trực tiếp sau khi nó đáo hạn; bên trong kho bao thanh toán là hóa đơn, là một chứng từ giao dịch và không liên quan gì đến việc quy ra tiền mặt.

Hơn nữa, hối phiếu vừa có thể được chuyển thành tiền mặt, lại vừa có thể chuyển nhượng được; Hóa đơn vừa không thể chuyển thành tiền mặt, lại vừa không thể chuyển nhượng, Việc chuyển nhượng bao thanh toán các khoản phải thu là quyền của chủ nợ, không phải là hóa đơn. Vì vậy, so với hóa đơn, dùng hối phiếu làm vật cầm cố, rủi ro sẽ nhỏ hơn rất nhiều.

V. Biên lai kho (Warehouse receipt: phiếu nhập kho)

Biên lai kho, cũng chính là vận đơn của kho hàng, là chứng khoán giá trị nên các kho hàng hay công ty logistics có thể phát hành phiếu nhập kho nói chung đều yêu cầu trình độ chuyên môn cao.

Khoản tài trợ cầm cố bằng biên nhận kho thông thường trông hơi giống với hình thức tài trợ cầm cố tĩnh. Một điểm khác biệt là công ty có thể sử dụng hàng tồn kho để đổi lấy hàng tồn kho cũ đang được cầm cố; điểm khác biệt lớn hơn là một khi công ty vi phạm quy ước thỏa thuận, ngân hàng có thể “xé bill”, tức là có quyền bán đi tài sản cầm cố.

Nếu tài chính cầm cố tĩnh chỉ đơn thuần là sử dụng hàng tồn kho làm tài sản thế chấp, thì tài trợ cầm cố biên lai kho có chút mùi vị của kỳ hạn giao hàng. Trong kỳ hạn giao hàng, quan tâm đến việc “xé bill” này gọi là thanh lý kho.

VI. Tài trợ hàng tồn kho

Như đã đề cập ở trên, có bốn loại tài trợ cho hàng tồn kho, đó là:

  1. Tài trợ cầm cố tĩnh chính là công ty đưa hàng tồn kho tạm thời chưa sử dụng đến dịch vụ Logistics của bên thứ ba mà được ngân hàng chỉ định để làm vật cầm cố, sau đó nhận được khoản tài chính từ ngân hàng, đợi khi cần dùng rồi thì đem tiền đến chuộc lại.

  2. Tài trợ cầm cố động có nghĩa là doanh nghiệp trọng điểm và ngân hàng hợp tác để cấp vốn cho các nhà phân phối hạ nguồn, mở rộng hàng tồn kho, tăng khả năng bán hàng và có thể trong một giới hạn nhất định, sử dụng hàng tồn kho để đổi lại hàng tồn kho cũ.

  3. Cam kết tài trợ cầm cố kho thông thường chính là công ty đưa hàng hóa tồn kho vào kho vận của bên Logistics thứ ba cụ thể để bảo quản, sau khi nhận  được biên lai kho thì cầm cố và nhận tài chính, sau đó một mặt sẽ trả tiền, một mặt sẽ nhận hàng.

  4. Cam kết tài trợ bằng biên nhận kho tiêu chuẩn có nghĩa là một công ty mua hàng tồn kho trên thị trường kỳ hạn và sử dụng biên lai kho tiêu chuẩn như một cam kết để được cấp vốn. Sau đó, công ty hoặc là sẽ hoàn lại tiền để chuộc biên lai kho, hoặc là sẽ để ngân hàng kiếm tiền từ chiết khấu nợ, khoản tiền lãi.

VII. Môi trường

Bạn học Kính mấy ngày nay vẫn luôn nghiệm thu các thử nghiệm, liên quan đến việc sản phẩm phần mềm từ việc phát triển cho đến người dùng sử dụng đều dính líu đến một môi trường nào đó, cũng nghe người bạn thí nghiệm nói một chút, nói chung là nó là như sau.

1. Môi trường phát triển

Đúng như tên gọi, phát triển môi trường được bạn học sử dụng trong quá trình phát triển. Mỗi bạn học phát triển làm việc trên nhánh dev của riêng mình. Trước khi thử nghiệm hoặc phát triển đến một mức độ nhất định, các bạn học sẽ hợp nhất các mã lại với nhau, tiến hành gỡ lỗi chung.

2. Môi trường thử nghiệm

Cũng chính là môi trường mà chúng ta kiểm tra của các bạn học làm việc. Nói chung, bản thân các bạn học thử nghiệm sẽ đến sắp xếp, sau đó tiến hành thử nghiệm ở môi trường này. Sau khi các lỗi bug được sửa, môi trường thử nghiệm cần được phát hành và cập nhật để hồi quy bug, tìm ra các bug mới.

3. Môi trường trước khi phát hành

Sự chuyển đổi từ môi trường thử nghiệm sang môi trường sản xuất. Môi trường thử nghiệm có thể có một số hạn chế. Nếu một số quy trình hoặc dữ liệu không được thử nghiệm, chúng có thể được xác minh trong môi trường trước khi phát hành, từ đó đảm bảo chất lượng của quá trình ra mắt sản phẩm.

Sự khác biệt giữa môi trường trước khi phát hành và môi trường sản xuất:

  • Chức năng mới trong môi trường trước khi phát hành là mã mới nhất và các mã chức năng khác phù hợp với môi trường sản xuất.

  • Tên miền truy cập của môi trường tiền phát hành và môi trường sản xuất là khác nhau.

Lưu ý: Môi trường trước khi phát hành thường được kết nối với cơ sở dữ liệu của môi trường sản xuất, hãy chú ý đến nó trong quá trình thử nghiệm để tránh dữ liệu bẩn và ảnh hưởng đến việc sử dụng môi trường sản xuất.

4. Môi trường sản xuất

Tức là môi trường trực tuyến, môi trường do người dùng sử dụng. Nó được duy trì bởi một người cụ thể, và những người bình thường không có quyền sửa đổi nó.

VIII. Chiến lược trì hoãn trong quản lý chuỗi cung ứng

Đây là những ghi chép mà tôi nghe được từ khóa học công khai về quản trị chuỗi cung ứng của trường Đại học Đông Nam, chủ yếu là để tối ưu hóa việc quản lý hàng tồn kho của chuỗi cung ứng, việc học tập và suy nghĩ về chiến lược trì hoãn cụ thể như sau.

Trì hoãn hoặc chiến lược trì hoãn thường không được gọi là việc kéo dài, trì hoãn thời gian thông thường, mà là một chiến lược thông minh được áp dụng để giảm rủi ro dự đoán và thích ứng với việc sản xuất đa dạng sản phẩm.

Ý tưởng cơ bản là: trong chuỗi cung ứng, quá trình sản xuất sản phẩm được chia thành giai đoạn khái quát hóa và giai đoạn khác biệt hóa. Các công ty sản xuất chỉ sản xuất các sản phẩm trung gian hoặc các bộ phận theo module trước và trì hoãn việc kinh doanh khác biệt hóa sản phẩm hết sức có thể. Đợi sau khi người dùng cuối cùng xác nhận các yêu cầu cụ thể về hình thức, chức năng và số lượng của sản phẩm, sau đó mới hoàn thành các công việc khác biệt hóa sản phẩm.

Sự trì hoãn được thực hiện sự kết hợp hữu cơ giữa sản xuất hàng loạt và sản xuất theo yêu cầu.

Sản xuất quy mô lớn có thể mang lại hiệu quả kinh tế theo quy mô, và việc tùy chỉnh có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô (Economies of scope: tên gọi khác: hiệu quả kinh tế theo phạm vi). Từ đó, cải thiện khả năng phản ứng nhanh trong khi đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Khi nhận được đơn đặt hàng từ khách hàng, công ty có thể hoàn thành quy trình khác biệt hóa sản phẩm và quy trình giao hàng nhanh nhất có thể, để liên tục thay đổi. Từ đó rút ngắn thời gian giao hàng và giảm sự không chắc chắn của hoạt động chuỗi cung ứng. Để cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, trì hoãn là một sự đổi mới đối với quá trình kinh doanh chuỗi cung ứng.

Sự trì hoãn trong quản lý chuỗi cung ứng có thể được chia thành sự trì hoãn trong sản xuất và sự trì hoãn trong Logistics.

Cái gọi là sự chậm trễ trong quá trình sản xuất (hay sự chậm trễ trong quá trình tạo khuôn) đề cập đến việc trì hoãn quá trình hình thành sản phẩm cuối cùng. Quan điểm cơ bản của nó là trước khi biết nhu cầu chính xác và ý định mua hàng của khách hàng, cố gắng làm cho sản phẩm giữ được giữ được ở trạng thái trung lập và không cam kết sản xuất một số lượng đáng kể các sản phẩm tiêu chuẩn hoặc sản phẩm cơ bản để thực hiện kinh tế quy mô hóa. Sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng, mới lập tức bắt tay vào việc sản xuất và lắp ráp thành phẩm, như vậy có thể đáp ứng đa dạng nhu cầu và rút ngắn thời gian giao hàng.

Cái gọi là sự chậm trễ về Logistics hay sự chậm trễ về mặt địa lý là việc thiết lập một kho chứa đầy đủ các sản phẩm tại một hoặc một số khu vực quan trọng về mặt chiến lược. Chỉ sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng, mới tiến hành phân bổ và phân phối sản phẩm, một khi trình tự Logistics được khởi động, các doanh nghiệp phải dùng toàn lực của mình để vận chuyển sản phẩm trực tiếp đến tay khách hàng một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất.

IX. “Hạ cánh mềm” (Soft landing) là gì?

“Hạ cánh mềm” là một quá trình nền kinh tế đang giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế để tránh lạm phát cao và lãi suất cao, đồng thời ngăn nền kinh tế rơi vào suy thoái.

Nền kinh tế Trung Quốc phải thực hiện được “hạ cánh mềm” để đảm bảo tiếp tục việc tăng trưởng kinh tế bền vững. Kinh nghiệm của những lần điều chỉnh kinh tế vĩ mô trước đây của Trung Quốc đã nhiều lần chứng minh rằng những thăng trầm kinh tế sẽ gây ra thiệt hại to lớn cho sự phát triển bền vững, và việc phục hồi sẽ mất nhiều thời gian hơn và tốn kém hơn.

RELATED ARTICLES
Để lại một bình luận
- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments