Thứ Hai, Tháng Chín 26, 2022
HomeTài chínhNhững khái niệm cơ bản mà một giám đốc sản phẩm tài...

Những khái niệm cơ bản mà một giám đốc sản phẩm tài chính cần hiểu (2)

Trước hết tôi sẽ nói về hai chuyện nhỏ này.

Thứ nhất, công ty chúng ta hiện đang kinh doanh các sản phẩm tài chính chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, công ty là một công ty dịch vụ chuỗi cung ứng, cũng chính là sản phẩm, là sản phẩm tài chính, công ty không phải là công ty tài chính, hiện tại gặp phải một vấn đề, chính là kết nối với nền tảng Alibaba Cloud SMS ban đầu. Sau khi xem xét tôi không ủng hộ nó, cũng tìm thấy vài công ty, họ đều nói rằng giám sát tài chính rất chặt chẽ, không ủng hộ dịch vụ tin nhắn của nền tảng tài chính.

 

Trên thực tế, điều này trong lúc tôi quản lý dự án sớm đã nhận ra rủi ro này rồi, nhưng các hoạt động hợp tác bên ngoài, tôi đều xếp vào loại rủi ro cấp cao, chẳng qua là vẫn chưa xử lý kịp thời nên chậm trễ thời gian.

Thứ hai là đi công tác để tìm hiểu nhu cầu tài chính của phiếu kho, tập đoàn có khu sản xuất, có kho đám mây, những ngày nay tôi có tìm hiểu nhu cầu tài chính kho nên đã quen với tình huống và quy trình của nghiệp vụ.

Kết hợp hai nền tảng này, cũng dễ dàng tổng kết được một vài khái niệm thường thức liên quan đến tài chính, quy nạp một chút, ghi chép lại một chút để mọi người có thể tham khảo.

http://image.woshipm.com/wp-files/2021/06/2RXTf9MFwxxpmQIpyJND.jpg

I. Tài chính kho

Tài chính kho, tài kho (Warehouse Financing) còn được gọi là “Tài trợ hàng lưu kho”, có nghĩa là người nộp đơn lưu trữ hàng hóa với toàn bộ quyền sở hữu trong công ty kho bãi (Sau đây sẽ gọi tắt là bên kho) do ngân hàng thương mại chỉ định, hơn nữa phiếu kho do bên kho cung cấp sẽ được thế chấp, cầm cố ở ngân hàng. Với tư cách là một bảo lãnh tài chính, ngân hàng cung cấp cho người nộp đơn các dịch vụ tài chính ngắn hạn dựa trên biên lai kho được cầm cố cho các thương mại đặc biệt của hàng hóa cùng loại với biên lai nhập kho.

II. SKU

SKU = Stock Keeping Unit (Đơn vị lưu kho), tức đơn vị đo lượng cơ bản về lượng hàng hóa xuất nhập kho, có thể tính bằng đơn vị kiện, hộp, pallet,…

SKU bao gồm thông tin ở 3 phương diện:

  1. Từ góc độ sản phẩm, SKU đề cập đến một sản phẩm duy nhất;
  2. Từ góc độ quản lý doanh nghiệp, SKU còn chứa thông tin về đơn vị đóng gói của hàng hóa;
  3. Từ quan điểm của hệ thống thông tin và mã hàng hóa, SKU chỉ là một mã số.

SKU được sử dụng để định giá và quản lý tồn kho. Ví dụ: một sản phẩm có nhiều màu và nhiều cấu hình, và mỗi sự kết hợp giữa các màu và cấu hình sẽ tạo thành một sản phẩm mới. Tại thời điểm này, nhiều SKU sẽ được tạo ra.

SKU cũng là một khái niệm rất phổ biến trong ngành công nghiệp ngoại tuyến truyền thống, đặc biệt là trong ngành quần áo. Kiểu dáng giống nhau, kích cỡ và màu sắc khác nhau đều là SKU độc lập, đòi hỏi mã vạch độc lập và quản lý hàng tồn kho độc lập.

SKU có nghĩa là một sản phẩm duy nhất (đơn vị tồn kho tối thiểu), có thể hiểu đơn giản là các thông số kỹ thuật con cụ thể của sản phẩm: màu sắc, kích thước, chữ viết và các thông tin khác (ví dụ: mã M màu đỏ là SKU; mã L màu đỏ lại là một SKU).

III. LMS

Hệ thống quản lý học tập (Learning Management System), tức LMS, còn có thể gọi là hệ thống e – Learning là hoạt động học tập và giảng dạy điện tử thông qua phương pháp kỹ thuật số như máy tính và mạng, là một mô hình quản lý đào tạo dựa trên thông tin hiệu quả.

Ngoài việc quản lý đào tạo ngoại tuyến, hệ thống quản lý học tập còn cung cấp nền tảng học tập trực tuyến cho nhân viên của các doanh nghiệp, thông qua nền tảng này, học viên có thể học các khóa học điện tử, làm bài kiểm tra trực tuyến, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm học tập,…

IV. Ủy thác

Mô hình tài trợ trả trước có nghĩa là các công ty hậu cần bên thứ ba cung cấp bảo đảm tín dụng theo tiền đề mà các công ty thượng nguồn cam kết mua lại. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ xin vay cầm cố từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác thông qua các kho hàng đã được thiết lập của các kho được chỉ định thuộc các tổ chức tài chính để giảm bớt áp lực thanh toán ứng trước. Đồng thời, các tổ chức tài chính kiểm soát hoạt động kinh doanh tài trợ quyền nhận hàng của họ.

Ủy thác là một thỏa thuận hợp pháp. Theo thỏa thuận pháp lý này, bạn (người ủy thác) giao quyền sở hữu tài sản cho người khác (người được ủy thác), người đó vận hành tài sản và cung cấp thu nhập vận hành cho người mà bạn chỉ định (người thụ hưởng). Còn về phía người nhận ủy thác vận hành như thế nào thì tùy thuộc vào pháp luật nơi ủy thác dựa vào đó và thỏa thuận trong các văn bản quy phạm pháp luật của bên ủy thác.

Quỹ là một sự sắp xếp đầu tư, cũng chính là nói một nhóm người (có thể là một vài người, cũng có thể là một cái chung không xác định) bỏ tiền lại với nhau theo một hình thức nhất định, đầu tư theo một cách nhất định và hưởng lợi. Có nhiều sự lựa chọn cho “hình thức nhất định” ở đây. Nó có thể là một công ty, có khả năng là một doanh nghiệp đối tác hoặc có khả năng là một quỹ tín thác.

Sự khác biệt giữa ủy thác và quỹ có thể được phân biệt ở các khía cạnh sau.

1. Ở phương diện mang tính an toàn

Độ an toàn của các sản phẩm ủy thác cao hơn so với các sản phẩm của quỹ và rủi ro tương đối thấp.

2. Phương diện các kênh đầu tư

Phạm vi đầu tư của các sản phẩm ủy thác khá rộng, có thể đầu tư vào các sản phẩm tài chính như chứng khoán, hoặc đầu tư vào các ngành, phạm vi đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán hiện nay chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu, ngoài ra nó còn bao gồm các kênh đầu tư khác.

3. Phương diện quản lý

Việc huy động các quỹ đầu tư chứng khoán phải được sự chấp thuận của Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Trung Quốc (China Securities Regulatory Commission, viết tắt là CSRC) và chịu sự giám sát của Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Trung Quốc và các cơ quan được cử đi để vận hành. Việc huy động vốn từ phương án ủy thác quỹ tập thể đầu tư chứng khoán không cần sự chấp thuận của  Ủy ban Điều tiết Ngân hàng Trung Quốc (China Banking Regulatory Commission: CBRC), nhưng cần thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định của pháp luật và chấp nhận sự giám sát của cơ quan quản lý ngân hàng trong hoạt động vận hành;

4. Phương diện gây vốn

Về vấn đề ủy thác, công ty ủy thác sẽ chấp nhận không quá 200 hợp đồng ủy thác vốn từ người ủy thác và số tiền của mỗi hợp đồng không được dưới 50.000 nhân dân tệ. Nếu một kế hoạch ủy thác tập thể được thúc đẩy ở một nơi khác, số tiền của mỗi hợp đồng sẽ không dưới 1 triệu nhân dân tệ.

5. Phương diện tính thanh khoản của đầu tư

Đối với quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở, không có hạn chế lớn trong việc mua lại và chuyển nhượng cổ phiếu quỹ, quỹ đóng thường được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và có tính thanh khoản, tính lưu động cao (nhưng thường được chiết khấu cao hơn khi chuyển nhượng). Đối với phương án ủy thác, nó không thể được mua lại trước khi hết thời hạn ủy thác, nhưng nó có thể được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, và tính thanh khoản tương đối kém.

V. ICP

Giấy phép kinh doanh dịch vụ Internet giá trị gia tăng (Internet Content Provider), tức là doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ thông tin Internet và dịch vụ giá trị gia tăng toàn diện cho nhiều đối tượng người dùng.

VI. Định chế tài chính

Định chế tài chính (Financial Institution) dùng để chỉ các tổ chức trung gian tài chính tham gia vào ngành tài chính. Đây là một bộ phận của hệ thống tài chính. Ngành tài chính bao gồm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ tín thác, quỹ và các ngành khác.

VII. Mô hình PPP

Nó là từ viết tắt của Public — Private — Partnership, tức là mô hình hợp tác giữa các cơ quan chính quyền nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân.

Thường được dịch là “hợp tác công tư”, nó đề cập đến sự hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức tư nhân trong việc xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng đô thị. Hoặc là để cung cấp hàng hóa, dịch vụ công nào đó, căn cứ vào thỏa thuận nhượng quyền thương mại, hình thành quan hệ hợp tác kiểu đối tác với nhau, ký kết hợp đồng làm rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên để đảm bảo việc hợp tác được hoàn thành thuận lợi và suôn sẻ. Để các bên hợp tác đạt được kết quả thuận lợi hơn mong đợi so với việc chỉ hành động đơn lẻ.

VIII. Các khoản cho vay tự bù đắp

Một tính năng điển hình của tài chính chuỗi cung ứng là tính tự bù đắp.

Cho vay tự bù đắp là khoản cho vay mà các doanh nghiệp công thương sử dụng để mua nguyên vật liệu hoặc tồn kho hàng hoá. Cùng với việc hoàn thành quá trình tiêu dùng sản phẩm hoặc quá trình luân chuyển hàng hóa, từ trong thu nhập bán hàng tạo ra được khoản cho vay có khả năng tự bù đắp, hoàn trả.

IX. Chiết khấu hóa đơn

Chiết khấu hóa đơn là chiết khấu các hóa đơn phải thu và phải trả, một cách để các công ty xoay sở và huy động vốn. Trước khi đến hạn thanh toán tín phiếu phải thu, doanh nghiệp ký hậu gửi ngân hàng chiết khấu, ngân hàng thanh toán số dư giá trị kỳ hạn thanh toán sau khi trừ lãi từ ngày chiết khấu đến ngày đáo hạn (sau khi đã quy ra tiền) được tính theo đến tỷ lệ chiết khấu Doanh nghiệp, được gọi là chiết khấu hóa đơn phải thu.

Công thức tính lãi chiết khấu trên các hóa đơn phải thu và số tiền chiết khấu là:

  • Lãi suất chiết khấu = giá trị đáo hạn thanh toán × lãi suất chiết khấu × thời gian chiết khấu;
  • Số tiền thực tế = giá trị đáo hạn thanh toán – lãi suất chiết khấu.

X. Mô hình tài chính kho xác nhận

Kho xác nhận hoặc cho vay tín dụng của người mua, so với nghiệp vụ kinh doanh cầm cố nhận kho của công ty, được đặc trưng bởi trước hết là hóa đơn sau là hàng hóa, nghĩa là, ngân hàng phát hành hóa đơn chấp nhận sau khi người mua (khách hàng) thanh toán một khoản tiền nhất định và người nhận là nhà sản xuất, nhà sản xuất sau khi nhận được phiếu chấp nhận của ngân hàng, họ sẽ vào kho do ngân hàng chỉ định, sau khi hàng về đến kho thì sẽ được cầm cố phiếu xuất kho.

Trong mô hình này, nhà sản xuất, nhà phân phối, công ty kinh doanh kho bãi và ngân hàng 4 bên bắt buộc phải ký thỏa thuận hợp tác “kho xác nhận”. Theo “hợp đồng mua bán” đã ký với nhà sản xuất, nhà phân phối nộp vào ngân hàng một tỷ lệ tiền đặt cọc nhất định, đồng thời xin phát hành hối phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng, số tiền này đặc biệt được sử dụng để thanh toán cho doanh nghiệp sản xuất, do công ty kho bãi của bên thứ ba cung cấp bảo lãnh chấp nhận, các nhà phân phối cung cấp bảo đảm đối ứng cho các công ty kho bãi của bên thứ ba về hàng hóa

Sau khi ngân hàng xuất hối phiếu được đã chấp nhận cho doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp sản xuất sẽ giao hàng về kho xác nhận, lúc này chuyển sang hình thức cầm cố phiếu nhập kho.

Nếu đã xem đến chỗ này, hãy xem một sơ đồ về kiến trúc của kho đám mây đính kèm bên dưới:

Bosskol News
Bosskol News
Biên dịch - sáng tạo nội dung của Bosskol.com
RELATED ARTICLES
Để lại một bình luận
- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments