Thứ Hai, Tháng Chín 26, 2022
HomeTài chínhLãnh đạo số trong ngành ngân hàng có thực sự quan trọng...

Lãnh đạo số trong ngành ngân hàng có thực sự quan trọng không?

TỪ VULNERABLE (DỄ BỊ TỔN THƯƠNG) ĐẾN VOLATILE (KHÔNG ỔN ĐỊNH)

Ở châu Âu nói chung, một phần ba tăng trưởng doanh thu thuộc về các công ty tham gia vào thị trường ngân hàng và thanh toán từ năm 2005, trong đó thị trường Vương quốc Anh bị gián đoạn nhiều nhất khi có tới hơn 10% tổng doanh thu hiện tại và hơn 60% tăng trưởng doanh thu chảy đến cho những “thành viên mới”. Dưới tác động kết hợp của những thay đổi về quy định pháp lý (như Ngân hàng mở) và kỳ vọng ngày càng cao và kiên định của khách hàng từ những trải nghiệm số phi ngân hàng, dường như sự thay đổi cấu trúc vốn được dự đoán từ lâu của ngành này đang diễn ra ít nhất là ở một số thị trường.

Nhưng câu chuyện ở đây không đồng nhất. Đối với mọi ví dụ ở Vương quốc Anh, nơi các ngân hàng bán lẻ thách thức như Monzo và Revolut đang có được hàng triệu khách hàng và đưa ra định giá kỳ lân, đều có những phản ví dụ hấp dẫn không kém. Ví dụ: Ở Canada, hệ thống quy định pháp lý khôn ngoan kết hợp với việc khách hàng có lòng trung thành bền vững và những thành viên đương nhiệm trong thị trường liên tục đổi mới đã làm giảm sự lựa chọn của nhiều nhà đầu tư mạo hiểm, dẫn đến một cấu trúc ngành ổn định luôn mang lại lợi nhuận hấp dẫn cho cổ đông. Bất chấp những khác biệt thị trường quan trọng này, khi lùi lại một bước và nhìn vào ngân hàng toàn cầu trong bối cảnh của các ngành khác, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra một sự dịch chuyển rõ ràng từ vị trí dễ bị tổn thương sang vị trí đầy biến động như hiện nay (Biểu đồ 1).

Các nhà đầu tư ngân hàng có vẻ cũng đồng quan điểm với chúng tôi về việc triển vọng tương lai của các doanh nghiệp đương nhiệm trong ngành ngân hàng đã xấu đi và gián đoạn sẽ hạn chế khả năng liên tục tạo ra tăng trưởng có lãi của của các doanh nghiệp này. Như phân tích trong Biểu đồ 2, sau những khó khăn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lĩnh vực ngân hàng đã tìm cách đạt trở lại lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) (lưu ý rằng thời điểm này có nhiều vốn chủ sở hữu hơn giai đoạn trước khủng hoảng), điều đó khiến ngành này được xếp giữa khi so sánh với các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, khi nhìn vào các chỉ số định giá thị trường như giá trên sổ sách hoặc giá trên thu nhập một cổ phiếu, chúng ta thấy ngân hàng đang suy yếu ở gần cuối bảng liên minh ngành. Các nhà đầu tư đang gửi đi thông điệp rõ ràng rằng: Đúng là lợi nhuận hiện tại gần bằng giá vốn, nhưng không có cơ sở cam đoan mô hình kinh doanh ngân hàng truyền thống sẽ có giá trị trong tương lai. Thay vào đó, chính các fintech được giao dịch công khai nhắm mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn hơn là lợi nhuận mới cho thấy tiềm năng tăng trưởng trong tương lai với mức tăng trưởng tiềm năng thường đạt 1/2 mức định giá hiện tại của chúng. Nếu chỉ nhìn vào thị trường chứng khoán, chúng ta sẽ kết luận rằng các ngân hàng thương mại và bán lẻ đương nhiệm là một “đám sâu bướm” khó có khả năng phá kén và bất chợt biết bay.

BIỂU ĐỒ 1. Chỉ số Khả năng gián đoạn của Accenture (Accenture Disruptability Index)

Chart, scatter chart

Description automatically generated

Phân tích của Accenture Research trên 18 ngành từ năm 2011 đến 2018

Nguồn: Chỉ số Khả năng gián đoạn của Accenture 2.0

Sự mất niềm tin vào tương lai này không phải là tin mới đối với các nhà điều hành của các ngân hàng đương nhiệm; ngành công nghiệp này đã có những động thái phản ứng trong ít nhất 5 năm qua để cố gắng thay đổi câu chuyện đó. Khi các rào cản gia nhập giảm xuống và các ngân hàng xây dựng sức mạnh xung quanh các khả năng đổi mới như chiến lược thích ứng nhanh, thiết kế lấy con người làm trung tâm và giá trị của việc hợp tác tốt với những thành viên khác trong một hệ sinh thái rộng lớn hơn, chúng tôi nhận thấy nhiều thành viên đương nhiệm cam kết trọn vẹn trở thành ngân hàng ưu tiên kỹ thuật số. Một số ngân hàng như Ngân hàng Hoa Kỳ, Ngân hàng Hoàng gia Canada và Tập đoàn Ngân hàng Lloyds, tập trung vào việc kích hoạt kỹ thuật số cho hoạt động kinh doanh cốt lõi của họ, còn những ngân hàng khác như BBVA, cũng áp dụng tư duy giống như nhà đầu tư mạo hiểm, chiếm cổ phần thiểu số trong danh mục doanh nghiệp và thực hiện một loạt thương vụ mua lại nhằm tìm kiếm các điều kiện thích hợp để đẩy nhanh giai đoạn chuyển đổi số của mình. Các ngân hàng khác như ING và DBS thì tập trung vào sự chuyển đổi văn hóa từ trong ra ngoài, dựa trên logic rằng suy nghĩ và hành động như một “cánh bướm” là tiền đề cần thiết để tạo ra các sáng kiến thị trường mới chẳng hạn như ứng dụng Digibank của ngân hàng thách thức DBS ở Ấn Độ và ứng dụng kết hợp tài khoản ngân hàng mở Yolt của ING ở Châu Âu.

Is the banking sector ready for a digital onslaught? - The Hindu  BusinessLine

Trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018, các ngân hàng thương mại và bán lẻ truyền thống đã chi tổng cộng khoảng 1 nghìn tỷ USD trên toàn cầu cho nỗ lực chuyển đổi CNTT của họ, trong đó một phần lớn chi tiêu hiện được dành riêng cho các công nghệ hỗ trợ cánh bướm như công nghệ đám mây và phân tích dựa trên AI. Trong con số tổng hợp đó, phần chi tiêu dành cho các khoản đầu tư mới ngoài bảo trì CNTT ngày càng tăng, hiện chiếm khoảng 30% chi tiêu cho CNTT của các ngân hàng. Nhiều ngân hàng cũng đang nỗ lực trong công tác chuyển dịch chi tiêu giữa “điều hành ngân hàng” và “thay đổi ngân hàng” để đảm bảo tổ chức phát triển với tốc độ cạnh tranh.

Mặc dù ngành công nghiệp thực sự đang có những động thái phản ứng và thay đổi, nhưng tốc độ thay đổi lại không đồng nhất. Mặc dù một số đội ngũ điều hành ngân hàng hoàn toàn chấp nhận ý tưởng chỉ những “cánh bướm” số mới tồn tại, thì vẫn có nhiều bên nghĩ rằng những “sâu bướm” nâng cấp vẫn có thể đạt được thành công trong trung hạn. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ xác định xem trong cuộc tranh luận kia bên nào đúng và liệu những phát hiện có cung cấp định hướng rõ ràng cho ngành về cách tồn tại và phát triển trong một môi trường ngày càng biến động hay không.

BIỂU ĐỒ 2. Định giá theo ngành so với ROE, giai đoạn 2015-2018

 Chart, bar chart

Description automatically generated

Nhóm ngành ít sở hữu tài sản có điểm chuẩn P/BV không thể so sánh ngay với nhóm ngành sở hữu nhiều tài sản do sự khác biệt về cơ cấu.

Nguồn: Accenture Research on S&P Capital IQ data

“ALL IN” TRÊN LĨNH VỰC KỸ THUẬT SỐ? 

Trước khi cố gắng tìm hiểu xem liệu trên thực tế, mức độ chuyển đổi số có thúc đẩy hiệu quả hoạt động vượt trội và lợi thế cạnh tranh hay không, trước tiên chúng ta cần thực hiện phân đoạn mẫu ngân hàng hiện có dựa trên mức độ cam kết chuyển đổi số và mức độ nỗ lực thay đổi của họ.

Để thực hiện việc này, chúng tôi đã lấy 161 ngân hàng thương mại và bán lẻ lớn nhất từ 21 quốc gia và đánh giá mức độ trưởng thành về kỹ thuật số của các ngân hàng này qua một quy trình gồm ba giai đoạn. Đầu tiên, chúng tôi xem xét những gì các ngân hàng tự trình bày bằng cách phân tích bảng ghi cuộc gọi thu nhập, các bản tin công bố và ngân sách đầu tư đã nêu, để đánh giá mức độ nỗ lực chuyển đổi số của họ. Chúng tôi tìm kiếm các ngân hàng vừa nói vừa làm, thông qua các khoản đầu tư nội bộ hoặc bằng cách mua lại hoặc thiết lập quan hệ đối tác trong lĩnh vực số.

Tiếp theo, chúng tôi tìm kiếm xác nhận bên ngoài từ các nhà phân tích và quan sát viên trong ngành khác liên quan đến những tổ chức “all in” trên lĩnh vực ngân hàng số này. Những ngân hàng nào thắng giải “ngân hàng số tốt nhất”? Những ngân hàng nào chuyển hướng dựa trên các nghiên cứu so sánh khách quan về các chỉ số như mức độ hài lòng của khách hàng và tính năng/chức năng của ứng dụng dành cho thiết bị di động? Tóm lại, những ngân hàng nào đang được bên thứ ba công nhận là dẫn đầu về kỹ thuật số?

Cuối cùng, chúng tôi áp lên nhận định chủ quan của riêng mình. Công tác khách hàng trên khắp thế giới cho phép chúng tôi đưa ra kết luận của riêng mình về việc ngân hàng nào thực sự cam kết trở thành những “cánh bướm” so với những ngân hàng chỉ phủ lên dấu son kỹ thuật số cho bản thể “sâu bướm” của mình.

World's Best Digital Banks 2020 Round 2: Covid Raises The Digital Ante |  Global Finance Magazine

Thông qua nỗ lực nhiều giai đoạn này, chúng tôi mong muốn hướng đến tạo ra một đánh giá về trưởng thành kỹ thuật số khác biệt và tách biệt so với bất kỳ mọi thước đo hiệu quả kinh tế nào khác. Từ đó, biến số độc lập này sẽ cho phép chúng tôi xác định xem liệu trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số có bất kỳ khả năng giải thích nào liên quan đến một loạt các thước đo hiệu quả hoạt động tài chính như định giá thị trường, lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu và hiệu quả hàng đầu hay không.

Lưu ý: Phân tích bao gồm các ngân hàng lớn nhất của 21 quốc gia (Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp, Hồng Kông, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Thụy Điển, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ). Phạm vi phân tích này không bao gồm các ngân hàng có > 50% doanh thu liên quan đến hoạt động kinh doanh thị trường vốn.

Chúng tôi chia 161 ngân hàng được phân tích thành 3 phân khúc:

Icon

Description automatically generated

TẬP TRUNG SỐ 

Đây là một nhóm nhỏ các ngân hàng cam kết trọn vẹn với chuyển đổi số, có ý định rõ ràng về mục tiêu chuyển đổi sang một loại hình ngân hàng khác và đã và đang đầu tư để biến mục tiêu đó thành hiện thực. Mặc dù chưa có thành viên nào “thoát xác” hoàn chỉnh, nhưng hình dạng của những “cánh bướm” này đang trở nên khá rõ ràng.

 Icon

Description automatically generated

HOẠT ĐỘNG SỐ

Các thành viên ở nhóm này đang trong giai đoạn chuyển đổi và có nhiều sáng kiến cho thấy họ muốn trở thành những “cánh bướm”. Tuy nhiên, họ còn thiếu cảm giác gắn kết tổng thể đối với những nỗ lực của mình và chưa có một câu chuyện hấp dẫn hoặc thể hiện sự chuyển hóa thay đổi tương tự như nhóm Tập trung số.

Icon

Description automatically generated

NHÓM CÒN LẠI

Đây là nhóm chưa đạt được nhiều tiến bộ rõ ràng về chuyển đổi số và có thể vẫn đang loay hoay với ý tưởng có nên “xây kén” và khởi động một chương trình chuyển đổi toàn doanh nghiệp thực thụ hay không. Trong khi cố gắng khách quan về trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số hiện tại của nhóm này, chúng tôi sẽ không cố gắng xem xét sự thiếu tiến bộ cho dù đó là cố ý (dựa trên tiền đề việc trở thành “sâu bướm” nâng cấp là một chiến lược cạnh tranh mạnh mẽ) hay là do các thành viên có khát vọng hóa bướm nhưng không thể khởi động và duy trì một chương trình thay đổi hiệu quả.

Hầu hết các kỳ lân lớn và đang phát triển nhanh chóng trong ngành ngân hàng như Ant Financial và Stripe đều được khai sinh từ kỹ thuật số. Các kỳ lân này xếp ngoài danh mục Tập trung số và phạm vi phân tích của chúng tôi do có độ hiếm thống kê. Xét trên nhiều phương diện, họ là ngoại lệ chứ không phải là quy luật.

LÃNH ĐẠO SỐ CÓ QUAN TRỌNG KHÔNG? 

Digital Leadership Free Online Course - FutureLearn

Chúng tôi đã cố gắng xác định xem liệu lãnh đạo số có thực sự quan trọng hay không bằng cách bóc tách một cách có hệ thống hiệu quả hoạt động kinh tế và xem xét các chỉ số đó tương quan như thế nào với đánh giá của chúng tôi về trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số.

Bước đầu tiên là kiểm tra xem liệu trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số có ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư vào một tổ chức hay không. Liệu việc kể một câu chuyện kỹ thuật số hay ho rồi đầu tư và nỗ lực thay đổi rõ ràng để chứng minh câu chuyện đó sẽ thuyết phục được các nhà đầu tư hay các nhà đầu tư ngân hàng truyền thống khó tính này quan tâm đến các khoản lỗ tín dụng, hình dạng tương lai của đường cong lợi tức và tác động của cải cách pháp lý nhiều hơn?

Phân tích cho thấy định giá ngân hàng dường như có mối tương quan (và tương quan ngày càng rõ ràng) với trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số. Nhìn chung, các ngân hàng Tập trung số là nhóm duy nhất có chỉ số P/B lớn hơn 1 và khoảng cách so với nhóm còn lại của ngành đang được mở rộng (Biểu đồ 3). Mặc dù điều đó cho thấy một chút niềm tin vào tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai, nhưng các nhà lãnh đạo số này vẫn theo dấu nhiều gã không lồ công nghệ và công ty fintech giao dịch ở những hệ số cao hơn đáng kể. Có thể phân tích này sẽ bị chỉ trích là xem xét quá nhiều về trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số và chỉ quan sát một tập hợp các ngân hàng hiệu suất cao có thể giải quyết bất kỳ thách thức nào gặp phải vào thời điểm đó — và hiện tại thách thức đó là chuyển đổi số . Mặc dù điều này có thể đúng ở một mức độ nào đó, nhưng cách mà nhóm Hoạt động số đã vượt qua nhóm Còn lại trong lần đảo ngược xếp hạng năm 2011 cho thấy biến số trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số có sức mạnh giải thích.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, mặc dù trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số dường như có sức mạnh giải thích đối với định giá thị trường, nhưng chắc chắn là không có tính quyết định. Giá trị giá ghi sổ trung bình cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa ba nhóm kỹ thuật số; tuy nhiên, sự phân bố lại có sự chồng chéo cao. Điều này chỉ ra rằng trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số chỉ là một trong số nhiều biến số hiệu suất quan trọng và tất cả đều bình đẳng dưới góc nhìn của nhà đầu tư, một ngân hàng tại một thị trường thuận lợi như ở Canada hoặc Úc vẫn có thể trở thành động lực thu được lợi nhuận lớn hơn nhiều so với một nhà lãnh đạo số tại một thị trường đầy thách thức như ở Đức.

BIỂU ĐỒ 3. Chỉ số P/B của các ngân hàng

Chart

Description automatically generated

Nguồn: Accenture Research on S&P Capital IQ data

Lưu ý: Các giá trị được tính bằng giá trị trung bình đơn giản của 99 ngân hàng có dữ liệu P/BV có sẵn trong cả 2011 và 2018.

Sau khi xác định trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số gắn liền với chênh lệch trong định giá thị trường, bước tiếp theo là xem xét liệu những định giá chênh lệch đó có phải là điều hợp lý do kinh tế vận hành tốt hơn hay không. Chúng tôi nhận thấy rằng trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số dường như có liên quan đến tăng lợi nhuận (Biểu đồ 4). Từ một vị trí không có nhiều khác biệt về ROE giữa ba nhóm vào năm 2011, giờ đây chúng ta thấy có sự phân tách; và kỳ vọng của các nhà phân tích là khoảng cách này sẽ tiếp tục mở rộng cho đến năm 2021. Trong khi cả ngân hàng nhóm Tập trung số và Hoạt động số đều đang tăng lợi nhuận, phát hiện đáng quan tâm đối với nhóm Còn lại là lợi nhuận có vẻ sẽ duy trì ở mức thấp hơn mức lợi nhuận năm 2011 trong khoảng thời gian sắp tới dù cho các điều kiện kinh tế vĩ mô nhìn chung khá tích cực.

Đến giờ vẫn ổn. Trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số có liên quan đến phí bảo hiểm thị trường cao hơn và thu hồi vốn tốt hơn. Câu hỏi logic tiếp theo cần đặt ra là, điều gì đang thúc đẩy nền kinh tế vận hành ưu việt? Đáp án cho câu hỏi này khá rõ ràng và có phần đáng ngạc nhiên. Khi xem xét những câu chuyện thành công về kỹ thuật số bên ngoài lĩnh vực ngân hàng (chẳng hạn như câu chuyện của Uber), chúng ta có xu hướng nghĩ về siêu tăng trưởng doanh thu và “cướp” thị phần điên cuồng và được khách hàng đón nhận, sau đó mới là khả năng sinh lời.

BIỂU ĐỒ 4. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng

Chart, bar chart

Description automatically generated

Nguồn: Accenture Research based on reported data and analysts’ consensus sourced from Capital IQ

Lưu ý: Giá trị được tính theo giá trị trung bình đơn giản của 107 ngân hàng, lấy dữ liệu có sẵn trong các năm 2011, 2017 và 2021.

Câu chuyện đối với các ngân hàng đương nhiệm rõ ràng là rất khác. Các ngân hàng được định giá cao nhất và có lợi nhuận nhiều nhất nằm trong nhóm Tập trung số, nhưng các ngân hàng này cải thiện khả năng sinh lời thông qua đòn bẩy hoạt động cao hơn, giúp tăng lợi nhuận nhiều hơn trên mỗi đô la tài sản (Biểu đồ 5). Đòn bẩy hoạt động có mối tương quan chặt chẽ với trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số đối với các ngân hàng trong nhóm Tập trung số, tạo ra gần 200 điểm phân kỳ cơ bản mỗi năm. Mặc dù nhóm Hoạt động số đã mở rộng đòn bẩy hoạt động, nhưng chỉ ở mức 130 điểm cơ bản mỗi năm. Đáng tiếc là các ngân hàng ở nhóm Còn lại hầu như không tạo ra được đòn bẩy hoạt động nào cả.

Khá bất ngờ nữa là mối quan hệ nghịch đảo rõ ràng giữa đòn bẩy hoạt động và cả tăng trưởng doanh thu lẫn tài sản, khi mà mức tăng trưởng cao nhất lại đến từ các ngân hàng có mức tiến bộ kỹ thuật số kém nhất. Có thể giải thích rằng, trong khi nhóm Tập trung số tập trung vào phát triển, thì “sâu bướm” chỉ đang nhai lá theo cách của mình, hài lòng với việc tích lũy trong mô hình kinh doanh hiện có. Cũng cần lưu ý rằng tăng trưởng doanh thu thấp hơn tăng trưởng tài sản đối với cả ba nhóm, cho thấy lợi nhuận toàn ngành bị nén trong giai đoạn 2011-2017.

BIỂU ĐỒ 5. Tăng trưởng doanh thu, chi phí và tài sản của các ngân hàng 

CAGR 2011-2017, %

Chart, bar chart

Description automatically generated

Nguồn: Accenture Research on S&P Capital IQ data

Lưu ý: Giá trị được tính là giá trị trung bình đơn giản của 140 ngân hàng. Đã loại trừ các giá trị ngoại lệ.

Tìm hiểu sâu hơn một chút về các nguồn đòn bẩy hoạt động, hiệu quả của các ngân hàng Tập trung số đều dựa trên phần doanh thu và chi phí trong báo cáo lãi và lỗ của họ (Biểu đồ 6). Có vẻ như nhóm Tập trung số luôn làm tốt hơn trong việc tao ra nhiều doanh thu hơn từ mỗi đô la tài sản. Thay đổi thực sự diễn ra là về hiệu quả chi phí, gia tăng đáng kể khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Tập trung số. Hiệu quả chi phí cải thiện kết hợp với việc duy trì lợi thế doanh thu đồng nghĩa các ngân hàng này đã tìm được cách tăng thu nhập hoạt động trên mỗi đô la tài sản trong khi hai nhóm còn lại phải chứng kiến sự suy giảm doanh thu. Đặc biệt là các ngân hàng trong nhóm Còn lại phải chịu sự suy giảm nhiều nhất về thu nhập hoạt động trên mỗi đô la tài sản trong sáu năm từ 2011 đến 2017.

BIỂU ĐỒ 6. Thu nhập từ hoạt động của ngân hàng, doanh thu và giá trên tài sản (%)

 Chart, bar chart

Description automatically generated

Nguồn: Accenture Research analysis on S&P Capital IQ data

Lưu ý: Giá trị được tính là giá trị trung bình đơn giản của 140 ngân hàng. Đã loại trừ các giá trị ngoại lệ.

Hiệu quả tạo nhiều doanh thu hơn trên mỗi đô la tài sản của các ngân hàng Tập trung số cũng dẫn đến một sự thay đổi thú vị trong thu nhập. Phân tích của chúng tôi cho thấy các ngân hàng càng ứng dụng tốt kỹ thuật số thì càng trở nên định hướng dàn trải bảng cân đối kế toán (Biểu đồ 7). Không chỉ các mức trung bình cho thấy sự thay đổi rõ rệt ở thu nhập lãi thuần (NII) đối với nhóm Tập trung số, mà ngay cả ở cấp độ ngân hàng cá nhân, đại đa số các ngân hàng Tập trung số đều nhận thấy NII tăng nhanh hơn thu nhập không chịu lãi. Một lý do cho điều này là, khi ngân hàng ứng dụng công nghệ kỹ thuật số nhiều hơn, sự biện minh cho thu nhập từ phí (để trả chi phí cố vấn hay công việc hành chính) sẽ giảm đi. Thay vào đó, quan trọng hơn là được chi trả cho việc chấp nhận rủi ro (lãi suất và tín dụng) liên quan đến chạy một bảng cân đối kế toán truyền thống.

NII ngày càng tăng cũng có nghĩa là ngày càng có nhiều mối quan hệ với khách hàng, dẫn đến tỷ lệ chuyển đổi/giữ chân khách hàng tốt hơn.

 Vậy, sau khi bóc tách vấn đề, chúng ta có thể kết luận rằng:

  • Trạng thái hoàn chỉnh của quá trình chuyển đổi số có liên quan đến định giá thị trường cao hơn.

  • Việc định giá thị trường cao hơn được chứng minh là do nền kinh tế vận hành tốt hơn và khoảng cách đang được mở rộng.

  • Những cải tiến trong kinh tế vận hành không phải là do động lực từ tăng trưởng chênh lệch, mà bởi hiệu quả trên cả khía cạnh doanh thu lẫn chi phí – mà ở giai đoạn này thì chủ yếu là hiệu quả chi phí.

  • Chuyển đổi số hiệu quả dường như gắn liền với việc quay trở lại mô hình kinh doanh trong đó bảng cân đối kế toán là động lực quan trọng của tăng trưởng thu nhập.

BIỂU ĐỒ 7. Nguồn thu của ngân hàng (% tổng doanh thu)

Chart, bar chart

Description automatically generated

Nguồn: Accenture Research on S&P Capital IQ data

Lưu ý: Giá trị được tính là giá trị trung bình đơn giản của 137 ngân hàng. Đã loại trừ các giá trị ngoại lệ.

Bosskol News
Bosskol News
Biên dịch - sáng tạo nội dung của Bosskol.com
RELATED ARTICLES
Để lại một bình luận
- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments